Quy định về tổ chức, hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng

   Chuyên mục: Bộ, Cơ quan
Thành viên


Ảnh minh họa.


Theo Nghị định số 26/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng vừa được Chính phủ ban hành, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị tương đương Tổng cục, trực thuộc NHNN, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, bảo hiểm tiền gửi...

Đối tượng thanh tra và đối tượng giám sát

Nghị định nêu rõ, đối tượng thanh tra của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng (sau đây gọi chung là đối tượng thanh tra ngân hàng) bao gồm: Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của NHNN; Đối tượng thanh tra ngân hàng được quy định tại Điều 52 Luật NHNN Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và công ty con của TCTD;

Không những vậy, đối tượng thanh tra còn có: DNNN do Thống đốc NHNN quyết định thành lập; Đối tượng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng) theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; Tổ chức bảo hiểm tiền gửi; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN.

Đối tượng giám sát bao gồm: Đối tượng giám sát ngân hàng được quy định tại Điều 56 Luật NHNN Việt Nam, bao gồm cả ngân hàng chính sách và công ty con của TCTD; Đối tượng báo cáo thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; Đối tượng khác theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Hệ thống tổ chức của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng

Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng là cơ quan thanh tra nhà nước, được tổ chức thành hệ thống gồm:

Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN.

Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh) được thành lập tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi không có Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.

Nguyên tắc thanh tra ngân hàng, giám sát ngân hàng

Nghị định cũng đặt ra 9 nguyên tắc thanh tra ngân hàng, giám sát ngân hàng.

Thứ nhất, bảo đảm tập trung, thống nhất trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ từ Trung ương đến địa phương.

Thứ hai, tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, ừung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lắp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng.

Thứ ba, Thanh tra ngân hàng được tiến hành theo đoàn thanh tra hoặc do thanh tra viên ngân hàng thực hiện.

Thứ tư, giám sát ngân hàng được tiến hành thường xuyên, liên tục.

Thứ năm, Kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng; kết họp chặt chẽ giữa thanh tra ngân hàng và giám sát ngân hàng.

Thứ sáu, thực hiện thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của TCTD.

Thứ bảy, thực hiện theo quy định của Luật NHNN Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về thanh tra ngân hàng, giám sát ngân hàng của Luật NHNN Việt Nam với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN Việt Nam.

Thứ tám, Thống đốc NHNN quy định trình tự, thủ tục thanh tra ngân hàng, giám sát ngân hàng.

Và cuối cùng là nguyên tắc khác theo quy định của pháp luật về thanh tra.

Có quyền yêu cầu thực hiện kiểm toán độc lập

Theo quy định tại Nghị định, Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng phải thuê công ty kiểm toán độc lập kiếm toán một, một số hoặc tất cả các nội dung về tố chức, hoạt động, tài chính khi xét thấy cần thiết trong một số trường hợp.

Cụ thể, như trong trường hợp TCTD có nguy cơ bị đặt vào tình trạng kiếm soát đặc biệt; TCTD được xem xét để chấm dứt thời hạn kiểm soái đặc biệt; TCTD được kiểm soát đặc biệt cần được đánh giá thực trạng tài chính, xác định giá trị DN, giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ để làm cơ sở áp dụng biện pháp xử ỉý theo quy định của pháp luật; TCTD được tổ chức lại theo quy định tại Điều 153 Luật Các TCTD;

Hoặc trong trường hợp Công ty con, công ty liên kết, đơn vị trực thuộc của TCTD có dấu hiệu ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của TCTD; Đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng thuộc diện yếu kém cần phải xử lý, cơ cấu lại; Đánh giá thực trạng tài chính, hoạt động và mức độ an toàn, lành mạnh của đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng để làm cơ sở áp dụng các biện pháp xử lý, bảo đảm an toàn;

Ngoài ra Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng có quyền yêu cầu đối tượng phải thuê công ty kiểm toán độc lập trong trường hợp nội dung thanh tra, giám sát vượt quá khả năng thực hiện của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng...

Nghị định cũng nêu rõ, đối tượng thanh tra ngân hàng, đối tượng giám sát ngân hàng phải thực hiện kiểm toán theo quy định tại Khoản 1 Điều này phải thanh toán các chi phí kiểm toán.

Nghị định cũng quy định rõ về tổ chức cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng; về Thanh tra viên ngân hàng và Công tác viên thanh tra ngân hàng; về hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng…

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2014 và thay thế Nghị định 91/1999/NĐ-CP ngày 4/9/1999 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng.