Người yêu nước và hành trình cứu nước

   Chuyên mục: Con người Việt Nam
Thành viên


Bến Nhà Rồng - nơi 102 năm trước Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.


Ngày này cách đây 102 năm, ngày 5-6-1911, con tàu Amiral La Touche de Tréville rời bến cảng Nhà Rồng thành phố Sài Gòn - Gia Định. Trên con tàu đó có người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc.

Lúc cập thuyền ai đã tiễn Người đi

Hay chỉ một mình Bác khăn gói biệt ly?

(Thăm bến Nhà Rồng - Trần Hoàn)

Hành trình của chàng trai 21 tuổi, sớm xác định nghĩa vụ cao cả nhất của người dân mất nước là giành lại đất nước. Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang nỗi đau của thân phận người dân nô lệ trong tim bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục với gần 30 quốc gia chỉ để tìm lời giải đáp: Làm gì để giành lại đất nước?

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ

Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương

Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương 

(Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)

Từ bến Nhà Rồng ra đi, Người nung nấu một ý chí với quyết tâm cháy bỏng: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi. Đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Những năm tháng đó, nước nhà chìm trong đêm dài nô lệ. Xiềng xích thực dân, gông cùm chế độ phong kiến mục ruỗng vây hãm, đày đọa mỗi một con người. Cứu nước! Mệnh lệnh thiêng liêng đó được tầng lớp sĩ phu, các chí sĩ yêu nước trăn trở. Nhưng "Bao thơ hay gỡ tơ rối/ Mà trước cuộc đời đành bó tay”- (Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác- An Thuyên). Từ những ngày tháng đó, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã nhận ra một điều cốt tử là phải xác định bằng được chủ thuyết nào để cứu nước. Đất nước không thiếu những người con nặng lòng với nước, những bậc sĩ phu trí lự, nhưng đã không tìm ra được con đường cứu nước. Đi khắp năm châu bốn bể, Người càng thấm thía nỗi đau của người dân mất nước, càng hiểu sâu sắc rằng các dân tộc thuộc địa phải vùng lên tự cứu mình. Từ chủ nghĩa dân tộc, Người đã tìm đến chân lý của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Các dân tộc bị nô lệ phải liên kết lại. Cuối năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, xác định con đường cứu nước, con đường giải phóng dân tộc đúng đắn nhất: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, bóc lột và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Từ đó, Người ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Suốt 30 năm dài bôn ba tìm đường cứu nước, khi ra đi tóc xanh, lúc trở về tóc Người điểm bạc. 30 năm quên thân mình, quên hạnh phúc riêng tư chỉ đau đáu một nỗi niềm cứu nước.

Mùa Xuân năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây, đất nước sang trang sử mới; người Việt Nam có Cụ Hồ. Cùng với những người đồng chí, những người học trò của mình, Người lãnh đạo toàn dân nổi dậy cướp chính quyền, làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất Tháng 8-1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Nhưng hành trình cách mạng của Người vẫn tiếp tục với muôn vàn gian khó: giữ nước.

Tháng 12-1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến. Người nói với đồng bào mình: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 9 năm trường kỳ kháng chiến, từ chiến khu trong núi rừng Việt Bắc, Người cùng đoàn quân chiến thắng trở về Thủ đô. Dừng chân tại nơi tưởng niệm các vua Hùng, Người nói với các chiến sĩ Đại đoàn 308: "Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, dòng Bến Hải như một nhát cắt giữa thân hình Tổ quốc. Người lại cùng toàn dân tộc bước vào cuộc kháng chiến thần thánh đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước. Ngày 17-7-1966, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc, Người kêu gọi: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do!”.

Ý chí và quyết tâm của Người như sắt đá. Đó là ý nguyện trọn đời vì dân vì nước. Trong Di chúc trước khi đi xa, Người viết: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Và Người thiết tha căn dặn: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

21 tuổi, Người ra đi tìm đường cứu nước. Bến Nhà Rồng đưa tiễn Người đi nhưng lại không được đón Người về. "Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”, học trò của Người, con cháu của Người đã tiếp bước Người hy sinh gian khổ quét sạch bóng quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến dịch cuối cùng của cuộc kháng chiến bền gan 21 năm vinh dự được mang tên Bác: Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 30-4-1975, Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Nam Bắc trùng phùng, thỏa lòng Bác mong. Bác không có mặt trong ngày hạnh phúc vĩ đại của dân tộc, nhưng Bác luôn ở trong trái tim của mỗi một người Việt Nam yêu nước - kể từ ngày này 102 năm trước, khi Người ra đi tìm đường cứu nước.